Creativity

Innovation

Originality

Imagination

 

Salient

Salient is an excellent design with a fresh approach for the ever-changing Web. Integrated with Gantry 5, it is infinitely customizable, incredibly powerful, and remarkably simple.

Download

alt

( Trại Tỵ nạn Galang- Indonesia)
     Hôm nay nghe lại những bản nhạc xưa, lòng bỗng dưng chùng xuống, hình ảnh những ngày xa xưa hiện ra như một lời nhắc nhủ: “đời đã xanh rêu!”
     Ngày ấy, từ trại tỵ nạn ở đảo Galang (Indonesia), chúng tôi được chuyển qua trạm chuyển tiếp ở Singapore hai ngày để chờ máy bay qua Úc định cư. Hai ngày ở đây, ngoài những thủ tục cho việc định cư ở đệ tam quốc gia, chúng tôi được hướng dẫn đi thăm phố phường của xứ người. Như mán ở rừng vừa ra tỉnh, vả lại còn trẻ, nên thứ gì cũng bắt mắt, cũng lạ, hay, đẹp... nhìn phụ nữ Singapore với vóc dáng sang trọng và tự tin, rồi xem lại mình mà phát ngượng với trang phục quê mùa thời ấy, tủi cho thân phận tỵ nạn quá chừng!

     Đến Melbourne, thành phố lớn thứ nhì ở Úc, vào ngày thứ Bảy, cuối tháng 10, đám tỵ nạn chúng tôi nhìn nhau ngán ngẩm khi xe buýt chạy từ phi trường về thành phố, thấy đồi núi chập chùng bao bọc quanh đường, nhà cửa thưa thớt và thấp lụp xụp mà phát nản. “Kiểu này thì tha hồ cày sâu cuốc bẫm rồi đây!” như mọi người trong trại tỵ nạn thường bỉu môi khi biết ai được Úc nhận vì đa số cũng chỉ biết Úc là  xứ nhà quê, toàn đồng không, hiu quạnh! 
     Đến được hostel, nơi tạm dừng chân của dân tỵ nạn thời ấy, giám đốc hostel đã đứng đợi và mời vào hội trường để phổ biến tin tức cần thiết, lúc đó lòng mọi người mới tạm yên tâm khi thấy hội trường rộng lớn và trang hoàng lộng lẫy, đèn đuốc sáng trưng, cùng những vật dụng tân tiến hiếm thấy ở nước mình.
     Vì đi hai chị em nên chúng tôi thuộc diện gia đình được có một phòng riêng hai giường không phải ở chung với ai, tuy nhiên hơi bất tiện là sẽ không có người đến làm vệ sinh phòng mà phải tự làm. Số khổ không được người phục vụ đã “vận vào người” từ ngày ấy, bởi thế ngày nay cũng  chỉ tự phục vụ mình hoặc phải phục vụ cho người thôi! 

     Hằng ngày được cung cấp ba bữa ăn tại một phòng ăn thật lớn, đèn đuốc sáng trưng. Một dãy thức ăn phong phú, đầy màu sắc, gồm toàn những món ăn lạ, trình bày đẹp mắt... nên chúng tôi tận tình chiếu cố, thử hết mọi món dù  những món ăn này tuy nhìn thấy ngon lành, hấp dẫn nhưng ăn mau ớn vì nhiều bơ sữa. Nhớ lại lúc đó tập ăn bằng muỗng nĩa, thú vị lắm và bỗng thấy mình.... Tây hơn!
     Hôm sau, nhằm ngày Chúa Nhật, tự ý cho mình được nằm nướng trên chăn êm nệm ấm một giờ nữa mới xuống phòng ăn sáng. Lạ chưa, sao chỉ còn vài người lác đác đi ra, thức ăn đã không bày ra như trước, các nhân viên đang lui cui dọn dẹp, chùi rửa. Giải nghĩa cho ngạc nhiên của chúng tôi bằng một tràng tiếng Anh mà chúng tôi chỉ hiểu lờ mờ là giờ ăn đã chấm dứt, nhưng chả biết lý do vì sao dù là chúng tôi dùng động từ “to quơ và to múa” để tìm hiểu. Hai chị em hậm hực bước ra mà lòng lầm bầm tự rủa ”đúng là kỳ thị chủng tộc!”. “Từng bước từng bước thầm” về phòng thì gặp một nhóm Việt Nam tiến lại, hỏi thăm mới vỡ lẽ là hôm nay nước Úc đổi giờ (mỗi năm nước Úc có hai lần đổi giờ  để tiết kiệm năng lượng gọi là daylight savings, vặn đồng hồ lui lại 1 giờ cho mùa đông, và vặn tới trước 1giờ cho mùa hè). Thế là đã giải tỏa được thành kiến bị ăn hiếp và kỳ thị cho hai chị em ngố!

     Sáng thứ Hai, chúng tôi được chở tới một nhà kho thật lớn để lựa chọn quần áo cũ (đó là hội từ thiện Công Giáo chuyên giúp đỡ cho người nghèo St. Vincent de Paul). Nhìn một rừng áo quần  đủ loại, đủ màu và tuy gọi là quần áo cũ nhưng vẫn còn rất mới, được giặt ủi cẩn thận để ngăn nắp trên kệ hoặc treo trên giá, nhưng tiếc là các vị hảo tâm này có lẽ thừa mứa bơ sữa nên bộ nào cũng vĩ đại, không vừa với tầm cỡ dân Việt mình. Hai chị em nhìn nhau lắc đầu rồi rủ nhau ra cửa chờ xe đến đón chở về hostel, trong khi các người cùng nhóm vẫn còn đang hăng hái lục lọi mặc vào, thay ra các loại áo quần và những nụ cười giòn tan khi khoác những bộ đồ lạ mắt mà không vừa khổ người mình. Tôi thắc mắc hỏi họ sao lấy nhiều thế, thì được trả lời “kệ, của chùa mà, cứ lấy về rồi tính sau”. Gần 3 tiếng ở đấy, chúng tôi hân hoan ra xe bus chở về hostel, trên tay ai cũng tay nải, tay xách, bởi vì ngoài những quần áo tự chọn, chúng tôi còn được hội phát cho 2 bộ pyjama mới tinh và những đồ dùng linh tinh cho vệ sinh cá nhân như xà bông, bàn chải, kem đánh răng...v.v...!

     Những ngày sau đó, chúng tôi lần lượt tham dự các khóa học Anh văn, tùy theo trình độ, để sớm hội nhập vào cuộc sống xứ người. Lớp học Anh văn này thật hữu ích khi chúng tôi được dạy cả những điều căn bản nhất trong xã hội như cách mua vé, đón xe, xem bản đồ đường xá..v.v.... đã nói lên sự chăm sóc chu đáo của đất nước tự do dành cho đám dân tỵ nạn. Điều thú vị làm cho tôi nhớ lại thời đó là mở sổ tiết kiệm, các ngân hàng lớn đến hostel để chỉ vẻ cách làm sổ và thuyết phục chúng tôi gia nhập bằng cách cho 10 hay 20 xu để bỏ vào sổ tiết kiệm vì hầu hết đám tỵ nạn đều trắng tay. Tôi chọn ngân hàng Commonwealth chỉ đơn giản là họ cho đến 20 xu và từ đó đến nay tôi vẫn trung thành là thân chủ của họ, dù bây giờ có nhiều ngân hàng khác đưa ra những đề nghị ưu đãi hơn. Lần đầu tiên cầm trên tay cuốn sổ tiết kiệm, lòng vui sướng và tự hào lắm khi mà sổ băng phải gọi là hiếm thấy ở Việt Nam thời bấy giờ. Những ngày đầu tiên của người tị nạn chắc cũng có tương tự những cảm giác ngộ nghĩnh đó, cầm số tiền mặt nhỏ - được bộ xã hội phát cho - sau khi trừ chi phí ăn ở, lòng mừng vui và cám ơn người, bởi ở xứ mình làm sao có được chu cấp này?

alt

     Dòng đời  trôi đều, những bỡ ngỡ, xa lạ lúc đầu đã dần dần tan  để bắt đầu cho cuộc sống  mới... Một chuỗi ngày dài lẫn lộn những vui, buồn, khó khăn, hạnh phúc... biết kể sao cho hết, thế mà thấm thoát đã qua 30 năm, nơi tưởng đâu chỉ là chỗ tạm dung, bỗng dưng thành thân thương, phải chăng xin chọn nơi này làm quê hương? 

Hồ Diệu Thảo

 

Add comment


Security code
Refresh